Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng, tăng 8% so với 500.000 đồng. Văn bản có hiệu lực từ 5/10/2026, đồng thời có quy định chuyển tiếp từ 1/7/2026 đối với người đang hưởng chính sách. Số tiền thực nhận phụ thuộc nhóm đối tượng, hệ số và chính sách địa phương.
Mức chuẩn tăng 8%, nhưng cần đọc đúng hai mốc thời gian
Chính phủ ban hành Nghị định 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 về chính sách trợ giúp xã hội. Mức chuẩn được nâng từ 500.000 lên 540.000 đồng/tháng, chênh lệch 40.000 đồng, tương ứng tăng 8%.
Ngày 5/10/2026 là thời điểm nghị định có hiệu lực. Tuy nhiên, quy định chuyển tiếp nêu người đang hưởng chế độ theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP và Nghị định 176/2025/NĐ-CP được chuyển sang mức tương ứng từ ngày 1/7/2026. Chủ tịch UBND cấp xã rà soát danh sách và quyết định chi trả theo mức tương ứng kể từ mốc này.
Vì vậy, không nên hiểu rằng mọi trường hợp đều chỉ bắt đầu được tính mức mới từ tháng 10. Người đang hưởng chính sách cần kiểm tra việc chuyển mức với cơ quan phụ trách tại nơi cư trú.
Những nhóm được trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng
Điều 5 quy định tám nhóm. Mỗi nhóm có điều kiện riêng; danh sách dưới đây giúp nhận diện ban đầu, còn trường hợp cụ thể cần đối chiếu đầy đủ văn bản.
1. Trẻ em dưới 16 tuổi thuộc các hoàn cảnh thiếu sự chăm sóc của cha mẹ được liệt kê trong nghị định: bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; cha mẹ đã chết, không xác định được, bị tuyên bố mất tích hoặc thuộc các tình trạng chăm sóc tập trung, chấp hành án, xử lý hành chính theo từng tổ hợp điều kiện cụ thể.
2. Người thuộc nhóm trẻ em nêu trên đang hưởng trợ cấp, đã đủ 16 tuổi và tiếp tục học phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc đại học văn bằng thứ nhất. Quá trình học phải liên tục, trừ trường hợp được tạm dừng hoặc bảo lưu theo quy định; chính sách tiếp tục đến khi kết thúc học.
3. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.
4. Người thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo, chưa có vợ hoặc chồng, hoặc vợ/chồng đã chết hay mất tích theo pháp luật, đang nuôi con dưới 16 tuổi. Trường hợp đang hưởng mà con đủ 16 tuổi tiếp tục học đáp ứng điều kiện, chính sách được tiếp tục đến khi con kết thúc học. Không phải mọi trường hợp nuôi con một mình đều mặc nhiên thuộc diện này.
5. Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, hoặc người phụng dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng. Nghị định cũng quy định trường hợp người cao tuổi nghèo không có người phụng dưỡng, không thể sống tại cộng đồng, đủ điều kiện vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.
6. Người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng theo pháp luật về người khuyết tật.
7. Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo, sống tại xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn, không thuộc các nhóm tại khoản 1, 3 và 6 Điều 5.
8. Người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo, không có tiền lương, tiền công, lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.
540.000 đồng là căn cứ tính, mức hưởng có thể cao hơn
Theo Điều 6, mức trợ cấp xã hội hằng tháng tại cộng đồng bằng mức chuẩn nhân với hệ số của từng đối tượng. Với chuẩn 540.000 đồng, hệ số 1,0 tương ứng 540.000 đồng; 1,5 là 810.000 đồng; 2,0 là 1.080.000 đồng; 2,5 là 1.350.000 đồng; 3,0 là 1.620.000 đồng/tháng.
Ví dụ, người khuyết tật nặng hưởng hệ số 1,5, tương ứng 810.000 đồng. Trẻ em hoặc người cao tuổi khuyết tật nặng hưởng hệ số 2,0, tương ứng 1.080.000 đồng. Người khuyết tật đặc biệt nặng hưởng hệ số 2,0; nếu là trẻ em hoặc người cao tuổi thì hệ số 2,5, tương ứng 1.350.000 đồng.
Người đơn thân nghèo nuôi con thuộc diện quy định hưởng hệ số 1,0 cho mỗi con đang nuôi. Nhóm người cao tuổi tại điểm a khoản 5 Điều 5 có hệ số 1,5 khi từ đủ 60 đến dưới 75 tuổi, và 2,0 khi từ đủ 75 tuổi. Trường hợp tại điểm b khoản 5 có hệ số 3,0.
Các ví dụ này tính theo mức chuẩn chung. Địa phương có điều kiện kinh tế và xã hội bảo đảm có thể quyết định mức chuẩn, mức trợ giúp cao hơn hoặc bổ sung nhóm khó khăn khác theo thẩm quyền.
Không tự cộng nhiều chế độ hoặc suy rộng điều kiện hưởng
Người thuộc nhiều mức trợ giúp thường chỉ hưởng một mức cao nhất theo nguyên tắc tại Điều 6. Có ngoại lệ đối với người đơn thân nghèo nuôi con đồng thời thuộc một số nhóm người cao tuổi, người khuyết tật hoặc người nhiễm HIV/AIDS được quy định. Không nên tự cộng các mức nếu chưa xác định đúng trường hợp.
Bài này tập trung vào trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng. Trợ cấp hưu trí xã hội, kinh phí nhận chăm sóc, trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc tại cơ sở có điều kiện, cách tính riêng. Cùng nhắc đến 540.000 đồng không có nghĩa các chế độ đều giống nhau.
Gia đình nên kiểm tra quyền lợi thế nào?
Trước hết, xác định người thân đang hưởng chế độ nào và căn cứ trong quyết định hiện có. Sau đó đối chiếu nhóm đối tượng, hệ số và chính sách bổ sung của địa phương. Với người đang hưởng, nên hỏi UBND cấp xã về việc rà soát, chuyển mức và chi trả theo quy định chuyển tiếp.
Nếu chưa hưởng nhưng cho rằng mình đáp ứng điều kiện, người dân có thể liên hệ UBND cấp xã hoặc bộ phận tiếp nhận thủ tục để được hướng dẫn hồ sơ phù hợp. Một bản tin giúp nhận diện quyền lợi, còn quyết định hưởng phải dựa trên việc xác định điều kiện của từng trường hợp.
Với cộng đồng và doanh nghiệp làm hoạt động xã hội, hỗ trợ người cần trợ giúp tiếp cận đúng thông tin cũng là một cách đồng hành thiết thực. Khi giới thiệu chính sách, cần nói rõ nhóm hưởng và cách tính, tránh biến mức chuẩn thành lời hứa về số tiền mà mọi người đều sẽ nhận.
- 540.000 đồng là mức chuẩn làm căn cứ tính trợ cấp, không phải mức chi trả chung cho mọi đối tượng.
- Cần phân biệt ngày nghị định có hiệu lực 5/10/2026 với mốc chuyển tiếp mức hưởng 1/7/2026.
- Trợ cấp xã hội hằng tháng tại cộng đồng được tính bằng mức chuẩn nhân hệ số tương ứng.
- Điều kiện hưởng gắn với từng trường hợp cụ thể; không phải mọi người cao tuổi hoặc mọi hộ nghèo đều tự động được hưởng.
Thông tin chính sách chỉ thực sự hữu ích khi người đọc biết mình thuộc diện nào, mức chuẩn được tính ra sao và cần liên hệ nơi nào để xác định quyền lợi cụ thể.
Gợi ý hành động
Câu hỏi thường gặp
Có phải ai cũng được nhận 540.000 đồng/tháng?
Không. Đây là mức chuẩn. Với trợ cấp xã hội hằng tháng tại cộng đồng, mức hưởng được tính theo hệ số tương ứng của nhóm đủ điều kiện; địa phương có thể quy định mức cao hơn.
Mốc 5/10 và 1/7/2026 khác nhau thế nào?
5/10/2026 là ngày nghị định có hiệu lực. Quy định chuyển tiếp nêu người đang hưởng chính sách theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP và Nghị định 176/2025/NĐ-CP được chuyển sang mức tương ứng từ 1/7/2026.
Mọi người từ 60 tuổi đều được nhận trợ cấp trong bài này?
Không. Nhóm người cao tuổi tại Điều 5 phải đáp ứng điều kiện về hộ nghèo, người phụng dưỡng hoặc hoàn cảnh chăm sóc tương ứng. Trợ cấp hưu trí xã hội là chế độ cần đối chiếu điều kiện riêng.
Nguồn nội dung và thời điểm cập nhật
Biên tập theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026, đối chiếu thông tin trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và Báo Điện tử Chính phủ. Phép tính mức hưởng trong bài được thực hiện từ mức chuẩn và hệ số. Ảnh minh họa bằng AI, không ghi lại một đợt chi trả trợ cấp thực tế.
Cập nhật lần cuối: 30/09/2026


